Tín Dụng nhỏ là gì ?
Muhammad Yunus
Tháng 1, 2003
---------------------------------------------------------------------------
Từ « microcredit » (tiếng việt là cụm từ « tín dụng nhỏ ») chưa tồn tại giai đoạn trước năm 70s. Đến nay nó đã trở thành thời thượng trong các nhà hoạt động phát triển. Trong tiến trình, từ này đã bị đổ lỗi mang đủ thứ ý nghĩa cho tất cả mọi người. Chẳng ai giật mình nếu một người nào đó sử dụng cụm từ “tín dụng nhỏ” để chỉ cho tín dụng nông nghiệp, hay tín dụng nông thôn, hay hợp tác xã tín dụng, hay tín dụng tiêu dùng, cho vay tín dụng của các tổ chức tiết kiệm tín dụng, hay của các hiệp hội tín dụng, hay từ các chủ nợ tư nhân . Khi một ai đó khiếu nại rằng tín dụng nhỏ đã có hàng ngàn năm lịch sử, hay một trăm năm, thì cũng chẳng ai cho rằng đó là một mẩu tin lịch sử thú vị.
Tôi cho rằng điều này tạo ra rất nhiều sự nhầm lẫn và sai lệch trong thảo luận về tín dụng nhỏ. Chúng ta đã không thật sự biết được ai đang nói về vấn đề gì? Tôi xin đề nghị chúng ta gọi các tên cho các loại tín dụng khác nhau. Qua đó chúng ta có thể làm rõ ngay từ ban đầu cuộc thảo luận của mình loại tín dụng nhỏ nào chúng ta đang bàn luận. Điều này rất quan trọng để đi đến được một kết luận cụ thể, thiết lập đúng các chính sách, thành lập các tổ chức và phương thức thích hợp. Thay vì chỉ nói “tín dụng nhỏ” chung chung, chúng ta nên cụ thể hóa loại hình tín dụng nhỏ.
Tôi xin đề nghị một cách xếp hạng mở rộng cho tín dụng nhỏ:
A) Tín dụng nhỏ phi chính quy truyền thống (chẳng hạn: tín dụng của chủ nợ tư nhân, hiệu cầm đồ, tín dụng từ bạn bè và người thân, tín dụng tieu dùng của thị trường phi chinh quy v.v…)
B) Tín dụng nhỏ dựa trên các nhóm phi chính quy truyền thống (chẳng hạn, nhóm quay vòng vốn và tiết kiệm, nhóm hụi v.v…)
C) Tín dụng nhỏ dựa trên các hoạt động thông qua các ngân hàng chuyên ngành hay ngân hàng cổ truyền (chẳng hạn, tín dụng nông nghiệp, tín dụng chăn nuôi, tín dụng nuôi bắt cá v.v…)
D) Tín dụng nông thôn thông qua các ngân hàng chuyên ngành.
E) Hợp tác xã tín dụng (HTX tín dụng; hiệp hội tín dụng, các tổ chức tiết kiệm tín dụng, ngân hàng tiết kiệm v.v…)
F) Tín dụng tiêu dùng
G) Tín dụng dựa trên sự hợp tác Ngân Hàng – tổ chức phi chính phủ (NGOs)
H) Tín dụng theo mô hình Grameen
I) Các hình thức tín dụng khác của tổ chức phi chính phủ
J) Các hình thức khác về tín dụng không thế chấp -không phải của NGO,
Đây chỉ là một đề xuất cố gắng thử phân loại các mô hình tín dụng nhỏ nhằm gây sự quan tâm chú ý. Điều quan trọng là mỗi khi chúng ta sử dụng từ “tín dụng nhỏ” chúng ta nên làm rõ mô hình (hay thuộc phân nhóm) nào của tín dụng nhỏ đang được đề cập đến. Nếu không chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra sự nhầm lẫn dai dẳng trong các cuộc tranh luận của mình. Cũng cần nhấn mạnh là việc phân loại mà tôi đề xuất chỉ là một thử nghiệm. Chúng ta có thể cải tiến nó để tạo điều kiện cho sự hiểu biết tốt hơn, cũng như việc quyết định các chínhsách đúng đắn hơn. Việc phân loại cũng có thể được thực hiện trong bối cảnh cụ thể của chủ đề thảo luận. Tôi đang biện luận rằng chúng ta cần phải chấm dứt việc sử dụng từ “tín dụng nhỏ” hay “ tài chính nhỏ” mà không đếm xỉa gì đến loại hình đích thực của nó.
Các số liệu thông tin về tín dụng nhỏ được tổng hợp và phát hành bởi nhiều tổ chức khác nhau. Chúng ta thấy rằng điều này rất hữu ích. Tôi đề nghị rằng trong khi phát hành các số liệu này chúng ta nên làm rõ loại hình của tín dụng nhỏ mà mỗi tổ chức cung cấp. Như vậy chúng ta có thể chuẩn bị các tập hợp thông tin quan trọng khác? Số lượng người vay vốn, và thành phần giới tính, số vốn phát ra, vốn lưu hành, cân đối tiết kiệm, v.v…cho mỗi loại hình tín dụng, trong phạm vi quốc gia, vùng và toàn thế giới.
Các tập hợp thông tin này sẽ cho chúng ta biết loại hình tín dụng nhỏ nào đang cung cấp bao nhiêu người nghèo vay vốn, thành phần giới tính của họ, sự phát triển của họ trong thời hạn 1 năm hay một thời kỳ , số vốn vay phát ra, vốn vay lưu hành, tiết kiệm v.v…Những mô hình đang hoạt động hiệu quả tốt hơn cần hỗ trợ thêm để có thể tiếp tục xu hướng của họ. Loại hình không hiệu quả cần được giúp đỡ để cải tiến hoạt động của nó. Điều này rất hữu ích liên quan đến những vấn đề về chínhsách. Đối với mục tiêu nghiên cứu, nó cũng sẽ tạo ra sự thay đổi vô cùng to lớn.
Tôi thúc đẩy Ban Thư Ký cuộc Vận Động Hội Nghị Thượng đỉnh Tín Dụng Nhỏ trình bày các thông tin mà họ đã thu thập được về số lượng người vay, trong đó số lượng người nghèo nhất, số lượng phụ nữ trong số người vay nghèo nhất, số lượng người vay đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói và chia ra theo mỗi loại hình tín dụng nhỏ. Điều này giúp cho các nhà tài trợ lựa chọn những mô hình mà họ muốn hỗ trợ. Việc phân loại này rất quan trọng cho các tổ chức tài trợ cũng như các nhà ra chính sách.
Tín dụng mô hình Grameen
Bất kỳ khi nào tôi sử dụng từ “ tín dụng nhỏ” tôi luôn nghĩ đến loại hình tín dụng theo mô hình Grameen. Tuy nhiên, nếu người đối diện lại hiểu nó tương tự các loại hình tín dụng nhỏ khác , thì những tranh luận của tôi sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tôi xin được liệt kê ở đây một số các đặc điểm khác biệt của tín dụng mô hình Grameen. Đây chưa phải là danh mục thật hoàn thiện. Không phải tất cả các chương trình Grameen đều mang tất cả các đặc điểm này. Một số chương trình mạnh về đặc điểm này, số khác thì lại mạnh về đặc điểm khác. Tuy vậy một cách tổng thể tất cả đều cùng tựu chung về một số đặc điểm cơ bản. Qua đó chúng tự giới thiệu như các chương trình ứng dụng mô hình Grameen hay chương trình theo mô hình Grameen.
Một số đặc điểm chung của mô hình tín dụng Grameen:
a) Khuyến khích tín dụng như một chủ đề của nhân quyền
b) Vai trò nhằm hỗ trợ các hộ gia đình nghèo tự thoát khỏi nghèo đói. Đối tượng là người nghèo và đặc biệt là phụ nữ nghèo.
c) Một đặc điểm khác biệt nhất của tín dụng Grameen là hoàn toàn không thế chấp, hay bất kỳ một hợp đồng bắt buộc chính thức. Nó được dựa vào “tín chấp”, không phải là các thủ tục và hệ thống chính quy.
d) Hỗ trợ các hoạt động tạo việc làm, tăng thu nhập và nhà ở cho người nghèo, không chấp thuận cho vay để tiêu dung.
e) Nó được tạo ra nhằm thách thức các hình thức ngân hàng cổ truyền đã đẩy người nghèo ra ngoài bởi xếp họ vào loại “không khả năng vay trả” . Do đó, nó từ bỏ phương thức cơ bản của ngân hàng cổ truyền và tạo ra phương thức riêng của chính mình .
f) Nó cung cấp dịch vụ tận cửa của người nghèo dựa trên nguyên tắc chủ đạo là người dân không cần tìm đến ngân hàng, mà ngân hàng nên tìm đến người dân.
g) Để nhận được vốn vay, người vay phải tham gia nhóm.
h) Các món vay có thể được cung cấp liên tục. Món vay mới được cung câp một khi người vay hoàn tất việc trả vốn vay trước.
i) Tất cả các món vay được trả góp dần (theo tuần, hay 2 tuần)
j) Một người có thể đồng thời nhận được hơn một món vay.
k) Người vay vốn tham gia chương trình tiết kiệm kể cả tự nguyện và bắt buộc.
l) Nhìn chung, các món vay được cung cấp thông qua các tổ chức phi chính phủ hoặc thông qua các tổ chức của chính những người vay vốn. Nếu nó do các tổ chức có lợi nhuận thực hiện, các cố gắng sẽ nhằm làm cho tỉ lệ lãi suất ở mức thích hợp tạo ra sự bền vững của chương trình chứ không nhằm đem đến lợi nhuận hấp dẫn cho nhà đầu tư. Nguyên tắc nổi bật của tín dụng Grameen là giữ cho tỉ lệ lãi suất gần với lãi suất thị trường, phổ biến rộng rãi trong thành phần ngân hàng thương mại, chú trọng tính bền vững. Bằng việc cố định tỉ lệ lãi, lãi suất thị trường xem như tỉ lệ tham chiếu hơn là tỉ lệ của người vay lãi tư nhân. Đến được với người nghèo là một nhiệm vụ không cần tranh cãi . Tạo ra sự bền vững cũng là một mục tiêu chiến lược. Cần nhanh chóng có được sự bền vững để có thể mở rộng kết quả mà không gặp cản ngại về nguồn vốn.
m) Tín dụng mô hình Grameen đặt ưu tiên cao trong việc xây dựng vốn xã hội. Nó được khuyến khích thông qua hoạt động huấn luyện của nhóm và trung tâm, phát triển chất lượng lãnh đạo thông qua việc bầu chọn lãnh đạo nhóm và trung tâm hàng năm; bầu chọn thành viên của ban quản trị một khi tổ chức do người vay vốn làm chủ. Nhằm hỗ trợ lịch trình hoạt động xã hội do chính người vay vốn tạo ra, tương tự “16 điều quy định” được thực hiện trong tiến trình thảo luận giữa những người vay vốn, và khuyến khích họ tự ra quyết định và thực hiện chúng. Nhấn mạnh các hoạt động huấn luyện tăng năng lực, vốn nhân lực cũng như các hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường. Nó hỗ trợ giám sát việc giáo dục trẻ em, cung cấp học bổng và vốn vay sinh viên. Trong việc huấn luyện cho nguồn nhân lực cố gắng đem kỹ thuật vào áp dụng, chẳng hạn điện thoại di động, năng lượng mặt trời và khuyến khích năng lực cơ khí thay thế năng lực tay chân
Mô hình tín dụng Grameen dựa trên sự thống nhất rằng người nghèo có nhiều kỹ năng chưa được sử dụng hoặc chưa sử dụng hết. Rõ rang không phải vì do thiếu kỹ năng nên họ nghèo ! Grameen tin tưởng rằng nghèo đói tạo ra không phải do người nghèo mà do bởi các tổ chức và chính sách đang tồn tại xung quanh họ . Nhằm giảm nghèo điều chúng ta cần làm là tạo ra những thay đổi thích hợp chính trong các tổ chức và chính sách và /hoặc tạo ra những cái mới. Grameen tin rằng từ thiện không phải là câu trả lời cho việc giảm nghèo. Nó chỉ giúp sự tiếp tục nghèo ! Nó tạo sự phụ thuộc và tước mất các sáng kiến cá nhân có thể vượt qua khỏi bức tường nghèo đói. Giải phóng năng lượng và sự sang tạo trong mỗi con người đó chính là câu trả lời cho việc xóa bỏ đói nghèo.
Grameen đem tín dụng cho người nghèo, cho phụ nữ, cho người mù chữ, cho người dân những ai cầu xin rằng họ không biết cách nào đầu tư đồng vốn để có được thu nhập. Grameen đã thiết lập một phương pháp và một tổ chức phục vụ nhu cầu tài chính của người nghèo, và đã tạo ra khả năng tiếp cận tín dụng theo cách thức hợp lý nhằm tạo điều kiện cho người nghèo phát triển dựa trên các kỹ năng có sẵn của chính họ có được nguồn thu nhập cao hơn cho mỗi vòng vay.
Nếu các nhà tài trợ có thể đưa ra một khuôn khổ các loại hình về chính sách tín dụng nhỏ họ sẽ có thể vượt qua một số trở ngại. Chính sách chung cho tín dụng nhỏ hiểu theo một nghĩa rộng thường thiếu sự tập trung và không sắc bén.
Muhammad Yunus
Tháng 1, 2003
---------------------------------------------------------------------------
Từ « microcredit » (tiếng việt là cụm từ « tín dụng nhỏ ») chưa tồn tại giai đoạn trước năm 70s. Đến nay nó đã trở thành thời thượng trong các nhà hoạt động phát triển. Trong tiến trình, từ này đã bị đổ lỗi mang đủ thứ ý nghĩa cho tất cả mọi người. Chẳng ai giật mình nếu một người nào đó sử dụng cụm từ “tín dụng nhỏ” để chỉ cho tín dụng nông nghiệp, hay tín dụng nông thôn, hay hợp tác xã tín dụng, hay tín dụng tiêu dùng, cho vay tín dụng của các tổ chức tiết kiệm tín dụng, hay của các hiệp hội tín dụng, hay từ các chủ nợ tư nhân . Khi một ai đó khiếu nại rằng tín dụng nhỏ đã có hàng ngàn năm lịch sử, hay một trăm năm, thì cũng chẳng ai cho rằng đó là một mẩu tin lịch sử thú vị.
Tôi cho rằng điều này tạo ra rất nhiều sự nhầm lẫn và sai lệch trong thảo luận về tín dụng nhỏ. Chúng ta đã không thật sự biết được ai đang nói về vấn đề gì? Tôi xin đề nghị chúng ta gọi các tên cho các loại tín dụng khác nhau. Qua đó chúng ta có thể làm rõ ngay từ ban đầu cuộc thảo luận của mình loại tín dụng nhỏ nào chúng ta đang bàn luận. Điều này rất quan trọng để đi đến được một kết luận cụ thể, thiết lập đúng các chính sách, thành lập các tổ chức và phương thức thích hợp. Thay vì chỉ nói “tín dụng nhỏ” chung chung, chúng ta nên cụ thể hóa loại hình tín dụng nhỏ.
Tôi xin đề nghị một cách xếp hạng mở rộng cho tín dụng nhỏ:
A) Tín dụng nhỏ phi chính quy truyền thống (chẳng hạn: tín dụng của chủ nợ tư nhân, hiệu cầm đồ, tín dụng từ bạn bè và người thân, tín dụng tieu dùng của thị trường phi chinh quy v.v…)
B) Tín dụng nhỏ dựa trên các nhóm phi chính quy truyền thống (chẳng hạn, nhóm quay vòng vốn và tiết kiệm, nhóm hụi v.v…)
C) Tín dụng nhỏ dựa trên các hoạt động thông qua các ngân hàng chuyên ngành hay ngân hàng cổ truyền (chẳng hạn, tín dụng nông nghiệp, tín dụng chăn nuôi, tín dụng nuôi bắt cá v.v…)
D) Tín dụng nông thôn thông qua các ngân hàng chuyên ngành.
E) Hợp tác xã tín dụng (HTX tín dụng; hiệp hội tín dụng, các tổ chức tiết kiệm tín dụng, ngân hàng tiết kiệm v.v…)
F) Tín dụng tiêu dùng
G) Tín dụng dựa trên sự hợp tác Ngân Hàng – tổ chức phi chính phủ (NGOs)
H) Tín dụng theo mô hình Grameen
I) Các hình thức tín dụng khác của tổ chức phi chính phủ
J) Các hình thức khác về tín dụng không thế chấp -không phải của NGO,
Đây chỉ là một đề xuất cố gắng thử phân loại các mô hình tín dụng nhỏ nhằm gây sự quan tâm chú ý. Điều quan trọng là mỗi khi chúng ta sử dụng từ “tín dụng nhỏ” chúng ta nên làm rõ mô hình (hay thuộc phân nhóm) nào của tín dụng nhỏ đang được đề cập đến. Nếu không chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra sự nhầm lẫn dai dẳng trong các cuộc tranh luận của mình. Cũng cần nhấn mạnh là việc phân loại mà tôi đề xuất chỉ là một thử nghiệm. Chúng ta có thể cải tiến nó để tạo điều kiện cho sự hiểu biết tốt hơn, cũng như việc quyết định các chínhsách đúng đắn hơn. Việc phân loại cũng có thể được thực hiện trong bối cảnh cụ thể của chủ đề thảo luận. Tôi đang biện luận rằng chúng ta cần phải chấm dứt việc sử dụng từ “tín dụng nhỏ” hay “ tài chính nhỏ” mà không đếm xỉa gì đến loại hình đích thực của nó.
Các số liệu thông tin về tín dụng nhỏ được tổng hợp và phát hành bởi nhiều tổ chức khác nhau. Chúng ta thấy rằng điều này rất hữu ích. Tôi đề nghị rằng trong khi phát hành các số liệu này chúng ta nên làm rõ loại hình của tín dụng nhỏ mà mỗi tổ chức cung cấp. Như vậy chúng ta có thể chuẩn bị các tập hợp thông tin quan trọng khác? Số lượng người vay vốn, và thành phần giới tính, số vốn phát ra, vốn lưu hành, cân đối tiết kiệm, v.v…cho mỗi loại hình tín dụng, trong phạm vi quốc gia, vùng và toàn thế giới.
Các tập hợp thông tin này sẽ cho chúng ta biết loại hình tín dụng nhỏ nào đang cung cấp bao nhiêu người nghèo vay vốn, thành phần giới tính của họ, sự phát triển của họ trong thời hạn 1 năm hay một thời kỳ , số vốn vay phát ra, vốn vay lưu hành, tiết kiệm v.v…Những mô hình đang hoạt động hiệu quả tốt hơn cần hỗ trợ thêm để có thể tiếp tục xu hướng của họ. Loại hình không hiệu quả cần được giúp đỡ để cải tiến hoạt động của nó. Điều này rất hữu ích liên quan đến những vấn đề về chínhsách. Đối với mục tiêu nghiên cứu, nó cũng sẽ tạo ra sự thay đổi vô cùng to lớn.
Tôi thúc đẩy Ban Thư Ký cuộc Vận Động Hội Nghị Thượng đỉnh Tín Dụng Nhỏ trình bày các thông tin mà họ đã thu thập được về số lượng người vay, trong đó số lượng người nghèo nhất, số lượng phụ nữ trong số người vay nghèo nhất, số lượng người vay đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói và chia ra theo mỗi loại hình tín dụng nhỏ. Điều này giúp cho các nhà tài trợ lựa chọn những mô hình mà họ muốn hỗ trợ. Việc phân loại này rất quan trọng cho các tổ chức tài trợ cũng như các nhà ra chính sách.
Tín dụng mô hình Grameen
Bất kỳ khi nào tôi sử dụng từ “ tín dụng nhỏ” tôi luôn nghĩ đến loại hình tín dụng theo mô hình Grameen. Tuy nhiên, nếu người đối diện lại hiểu nó tương tự các loại hình tín dụng nhỏ khác , thì những tranh luận của tôi sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tôi xin được liệt kê ở đây một số các đặc điểm khác biệt của tín dụng mô hình Grameen. Đây chưa phải là danh mục thật hoàn thiện. Không phải tất cả các chương trình Grameen đều mang tất cả các đặc điểm này. Một số chương trình mạnh về đặc điểm này, số khác thì lại mạnh về đặc điểm khác. Tuy vậy một cách tổng thể tất cả đều cùng tựu chung về một số đặc điểm cơ bản. Qua đó chúng tự giới thiệu như các chương trình ứng dụng mô hình Grameen hay chương trình theo mô hình Grameen.
Một số đặc điểm chung của mô hình tín dụng Grameen:
a) Khuyến khích tín dụng như một chủ đề của nhân quyền
b) Vai trò nhằm hỗ trợ các hộ gia đình nghèo tự thoát khỏi nghèo đói. Đối tượng là người nghèo và đặc biệt là phụ nữ nghèo.
c) Một đặc điểm khác biệt nhất của tín dụng Grameen là hoàn toàn không thế chấp, hay bất kỳ một hợp đồng bắt buộc chính thức. Nó được dựa vào “tín chấp”, không phải là các thủ tục và hệ thống chính quy.
d) Hỗ trợ các hoạt động tạo việc làm, tăng thu nhập và nhà ở cho người nghèo, không chấp thuận cho vay để tiêu dung.
e) Nó được tạo ra nhằm thách thức các hình thức ngân hàng cổ truyền đã đẩy người nghèo ra ngoài bởi xếp họ vào loại “không khả năng vay trả” . Do đó, nó từ bỏ phương thức cơ bản của ngân hàng cổ truyền và tạo ra phương thức riêng của chính mình .
f) Nó cung cấp dịch vụ tận cửa của người nghèo dựa trên nguyên tắc chủ đạo là người dân không cần tìm đến ngân hàng, mà ngân hàng nên tìm đến người dân.
g) Để nhận được vốn vay, người vay phải tham gia nhóm.
h) Các món vay có thể được cung cấp liên tục. Món vay mới được cung câp một khi người vay hoàn tất việc trả vốn vay trước.
i) Tất cả các món vay được trả góp dần (theo tuần, hay 2 tuần)
j) Một người có thể đồng thời nhận được hơn một món vay.
k) Người vay vốn tham gia chương trình tiết kiệm kể cả tự nguyện và bắt buộc.
l) Nhìn chung, các món vay được cung cấp thông qua các tổ chức phi chính phủ hoặc thông qua các tổ chức của chính những người vay vốn. Nếu nó do các tổ chức có lợi nhuận thực hiện, các cố gắng sẽ nhằm làm cho tỉ lệ lãi suất ở mức thích hợp tạo ra sự bền vững của chương trình chứ không nhằm đem đến lợi nhuận hấp dẫn cho nhà đầu tư. Nguyên tắc nổi bật của tín dụng Grameen là giữ cho tỉ lệ lãi suất gần với lãi suất thị trường, phổ biến rộng rãi trong thành phần ngân hàng thương mại, chú trọng tính bền vững. Bằng việc cố định tỉ lệ lãi, lãi suất thị trường xem như tỉ lệ tham chiếu hơn là tỉ lệ của người vay lãi tư nhân. Đến được với người nghèo là một nhiệm vụ không cần tranh cãi . Tạo ra sự bền vững cũng là một mục tiêu chiến lược. Cần nhanh chóng có được sự bền vững để có thể mở rộng kết quả mà không gặp cản ngại về nguồn vốn.
m) Tín dụng mô hình Grameen đặt ưu tiên cao trong việc xây dựng vốn xã hội. Nó được khuyến khích thông qua hoạt động huấn luyện của nhóm và trung tâm, phát triển chất lượng lãnh đạo thông qua việc bầu chọn lãnh đạo nhóm và trung tâm hàng năm; bầu chọn thành viên của ban quản trị một khi tổ chức do người vay vốn làm chủ. Nhằm hỗ trợ lịch trình hoạt động xã hội do chính người vay vốn tạo ra, tương tự “16 điều quy định” được thực hiện trong tiến trình thảo luận giữa những người vay vốn, và khuyến khích họ tự ra quyết định và thực hiện chúng. Nhấn mạnh các hoạt động huấn luyện tăng năng lực, vốn nhân lực cũng như các hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường. Nó hỗ trợ giám sát việc giáo dục trẻ em, cung cấp học bổng và vốn vay sinh viên. Trong việc huấn luyện cho nguồn nhân lực cố gắng đem kỹ thuật vào áp dụng, chẳng hạn điện thoại di động, năng lượng mặt trời và khuyến khích năng lực cơ khí thay thế năng lực tay chân
Mô hình tín dụng Grameen dựa trên sự thống nhất rằng người nghèo có nhiều kỹ năng chưa được sử dụng hoặc chưa sử dụng hết. Rõ rang không phải vì do thiếu kỹ năng nên họ nghèo ! Grameen tin tưởng rằng nghèo đói tạo ra không phải do người nghèo mà do bởi các tổ chức và chính sách đang tồn tại xung quanh họ . Nhằm giảm nghèo điều chúng ta cần làm là tạo ra những thay đổi thích hợp chính trong các tổ chức và chính sách và /hoặc tạo ra những cái mới. Grameen tin rằng từ thiện không phải là câu trả lời cho việc giảm nghèo. Nó chỉ giúp sự tiếp tục nghèo ! Nó tạo sự phụ thuộc và tước mất các sáng kiến cá nhân có thể vượt qua khỏi bức tường nghèo đói. Giải phóng năng lượng và sự sang tạo trong mỗi con người đó chính là câu trả lời cho việc xóa bỏ đói nghèo.
Grameen đem tín dụng cho người nghèo, cho phụ nữ, cho người mù chữ, cho người dân những ai cầu xin rằng họ không biết cách nào đầu tư đồng vốn để có được thu nhập. Grameen đã thiết lập một phương pháp và một tổ chức phục vụ nhu cầu tài chính của người nghèo, và đã tạo ra khả năng tiếp cận tín dụng theo cách thức hợp lý nhằm tạo điều kiện cho người nghèo phát triển dựa trên các kỹ năng có sẵn của chính họ có được nguồn thu nhập cao hơn cho mỗi vòng vay.
Nếu các nhà tài trợ có thể đưa ra một khuôn khổ các loại hình về chính sách tín dụng nhỏ họ sẽ có thể vượt qua một số trở ngại. Chính sách chung cho tín dụng nhỏ hiểu theo một nghĩa rộng thường thiếu sự tập trung và không sắc bén.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét